Sự kiện chấn động đang lan truyền trong giới ngoại giao quốc tế về việc Cuba, một biểu tượng của CNXH tại Tây bán cầu đang tiến tới việc quy thuận Hoa Kỳ trong hòa bình, đã tạo ra một cơn dư chấn chính trị mạnh mẽ.
Những thông tin về việc Ngoại trưởng Hoa Kỳ Marco Rubio liên lạc trực tiếp và trao đổi với ông Alejandro Castro, con trai cả của Raul Castro, để thảo luận về một lộ trình chuyển tiếp không đổ máu đã vẽ nên một thực tế phũ phàng về cái gọi là “lý tưởng cách mạng vô sản” sau hơn 70 năm đã chính thức chấm dứt.
Khi ngay cả hậu duệ trực hệ của dòng họ Castro – tức ông Alejandro Castro cũng phải thừa nhận rằng đất nước Cuba đã hết đường sống, không còn tiền, không còn ý chí và con đường XHCN trong gần 70 năm chỉ là một giai đoạn sai lầm nghiêm trọng.
Theo giới phân tích, đây không chỉ là câu chuyện của riêng đảo quốc Cuba, mà còn là một bài học đắt giá cho giới lãnh đạo tại Việt Nam.
Bài học quan trọng nhất mà Hà Nội cần nhìn nhận chính là: sự sụp đổ của cái gọi quá khứ hào hùng, mà Fidel Castro đã dành cả cuộc đời để xây dựng một pháo đài mang tính ý thức hệ.
Nhưng đến đời con cháu của Fidel, di sản đó chỉ còn lại là một giang sơn “rách nát” được ví như dưới địa ngục. Khi người dân sống trong hoàn cảnh thiếu thốn chưa từng thấy và trở thành một gánh nặng mà các “hậu duệ” của Fidel không thể gánh vác.
Khi Alejandro Castro thốt lên những lời cay đắng về sự chênh lệch cuộc sống giữa hai bờ Miami và La Habana, cháu trai của Fidel Castro đã thừa nhận sự thất bại toàn diện của mô hình kinh tế tập trung kiểu xô viết.
Đối với Việt Nam, việc dựa mãi vào những chiến tích trong quá khứ để duy trì quyền lãnh đạo độc tôn là một chiến lược thiếu tính toán và đầy rủi ro.
Nếu ông Tô Lâm và ban lãnh đạo Ba Đình không sớm thực sự cải cách triệt để với việc rời xa thứ học thuyết Cộng sản phản động và đầy tội lỗi để mang lại sự thịnh vượng thực chất cho đất nước. Thì cái kết của đảo quốc Cuba XHCN, nơi người dân bị lưu đày ngay trên chính quê hương của họ trong sự nghèo đói và tù túng có thể là viễn cảnh không xa đối với người dân ở Việt nam.
Vấn đề thứ hai là bài học về sự thích ứng và thực dụng trong quan hệ với Hoa Kỳ. Cuba XHCN đã mất gần 70 năm thù nghịch để rồi nhận ra rằng sự đối đầu với thế giới văn minh chỉ dẫn đến cái chết mòn của dân tộc.
Việc Alejandro Castro đề nghị Hoa Kỳ tiếp quản Cuba trong tinh thần hữu nghị là một sự đầu hàng vô điều kiện nhưng lại là giải pháp nhân đạo nhất để cứu vãn một quốc gia đã chạm đáy của sự khổ cực.
Điều này đặt ban lãnh đạo Việt Nam vào một tình thế phải suy ngẫm: Liệu việc duy trì một hệ thống chính trị độc đảng có thực sự bảo vệ được lợi ích quốc gia lâu dài, hay chỉ là đang kéo dài sự tồn tại của một nhóm lợi ích để chờ đợi một cuộc sụp đổ tự thân?
Cuối cùng, sự tan rã “bi thảm” của gia đình Fidel Castro, khi những người thân của ông người thì trốn chạy sang Hoa kỳ, con trai tự sát vì trầm uất, còn con gái phải làm giả giấy tờ, đội tóc giả để trốn sang Tây Ban Nha gia nhập hàng ngũ chống cộng
Đây là những minh chứng cho thấy sự xung đột giữa bản năng con người và ý thức hệ cực đoan. Nó bóc trần sự giả dối của tầng lớp lãnh đạo tự xưng là “vô sản” nhưng sống xa hoa như tầng lớp quyền quý.
Cuộc “đầu hàng” trong hòa bình của Cuba chính là lời nhắc nhở rằng: Không có pháo đài nào là vĩnh cửu nếu nó được xây dựng trên sự đói khổ của nhân dân và sự cô lập với thế giới văn minh.
Ông Tô Lâm cần hiểu rằng, thay đổi thể chế chính trị để hội nhập thực sự là cách duy nhất để Việt nam không phải “đầu hàng vô điều kiện” như thân tộc của Fidel Castro là cách để cứu lấy bản thân ông và dân tộc Việt nam.
Trà My – Thoibao.de










